:::Danh mục:::

:::TỶ GIÁ:::

Tháng Tám 22, 2017, 8:26 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 17,866.46 17,974.31 18,134.63
CAD 17,825.13 17,987.01 18,220.18
CHF 23,239.79 23,403.62 23,707.01
DKK - 3,548.83 3,660.13
EUR 26,626.40 26,706.52 26,957.92
GBP 28,922.06 29,125.94 29,385.73
HKD 2,863.04 2,883.22 2,926.44
INR - 353.68 367.57
JPY 204.76 206.83 208.68
KRW 18.49 19.46 20.68
KWD - 75,181.20 78,132.52
MYR - 5,275.52 5,343.91
NOK - 2,837.51 2,926.50
RUB - 384.39 428.34
SAR - 6,046.41 6,283.77
SEK - 2,777.89 2,847.87
SGD 16,496.71 16,613.00 16,794.73
THB 670.52 670.52 698.50
USD 22,690.00 22,690.00 22,760.00

:::THỜI TIẾT:::

Xây nhà trên đất bố mẹ cho, giờ anh em lại đòi chia thừa kế

Đăng lúc: Thứ tư - 23/12/2015 22:00 - Người đăng bài viết: admin
Hỏi: Gia đình em có hai ngôi nhà đều thuộc sở hữu của bố mẹ em cả ở trên giấy tờ, trong đó có một mảnh đất là ông bà cho, bố mẹ em xây nhà lên và hoàn toàn đứng tên, không liên quan đến ông bà. Ông bà nội em sống cùng gia đình em luôn ở căn nhà đó. Bố mẹ em đã mất được một thời gian, sau đó 1 năm thì ông bà em mất. Nay các chú em đòi chia tài sản, chia cả ngôi nhà trên mảnh đất ông bà em cho. Vậy em có phải chia cho các chú không? Tất cả đất đai tài sản của gia đình em hiện đều đứng tên bố mẹ em chứ không liên quan gì đến ông bà em hết.
Trả lời:

Thứ nhất: 
Xác định người thừa kế được hưởng di sản do bố mẹ để lại:

Hai mảnh đất mang tên bố mẹ bạn thì khi bố mẹ bạn mất, nếu không để lại di chúc thì di sản được chia thừa kế theo pháp luật. Theo thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất mà bố mẹ bạn được ông bà bạn tặng cho hiện nay đã đứng tên bố mẹ bạn nên theo quy định tại khoản 2 điều 467 Bộ luật dân sự 2005: “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.” Như vậy, việc tặng cho tài sản là mảnh đất trên giữa ông bà bạn và bố mẹ bạn đã có hiệu lực kể từ thời điểm bất động sản trên mang tên của bố mẹ bạn. Khi đó bố mẹ bạn mất thì tài sản trên là di sản thừa kế của bố mẹ bạn. Khi đó, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự 2005:

“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”.

Khi bố mẹ bạn mất di sản thừa kế được chia đều cho những người thừa kế thứ nhất gồm ông bà bạn, bạn và con đẻ, con nuôi của người chết.

Thứ hai: Chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Thời điểm cha mẹ của bạn chết mà ông, bà nội của bạn vẫn còn sống nên theo điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng ½ giá trị căn nhà của cha bạn là 03 người gồm: ông nội của bạn, bà nội của bạn, và bạn, tức là mỗi người được hưởng 1/6 giá trị căn nhà; những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng ½ giá trị căn nhà của mẹ của bạn là 01 người gồm: bạn (giả sử ông bà ngoại của bạn đã chết trước khi mẹ bạn qua đời).

Như vậy, phần tài sản mà ông nội của bạn được hưởng trên phần di sản của cha của bạn để lại, tức 1/6 giá trị căn nhà.

Do đó, khi ông nội của bạn chết và không để lại di chúc thì 1/6 giá trị căn nhà này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho các người con còn lại của ông nội của bạn, bà nội của bạn vì những người này thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005.

Như trên đã phân tích thì có thể thấy rằng kỷ phần mà bạn được thừa kế là lớn hơn rất nhiều so với kỷ phần mà các con của ông, bà nội của bạn hưởng.

Hiện tại, các con của ông, bà nội của bạn đòi bán căn nhà đó để chia thừa kế mà bạn muốn giữ lại căn nhà thì theo quy định tại khoản 2 Điều 685 BLDS 2005 thì các bạn có thể thỏa thuận với họ về việc định giá căn nhà để xác định giá trị bằng tiền của phần tài sản của mỗi người, từ đó các bạn thỏa thuận thanh toán cho họ để các bạn sở hữu căn nhà này. 

Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì vụ việc trở thành tranh chấp và có quyền yêu cầu tòa án giải quyết căn cứ theo Luật Đất Đai 2013, Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Tư vấn bởi Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội.

Tác giả bài viết: Ban Bạn đọc
Nguồn tin: vietnamnet.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

.

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 20
  • Hôm nay: 248
  • Tháng hiện tại: 6654
  • Tổng lượt truy cập: 1173363